Kinh tế tuần hoàn rác thải nhựa

Ccx

Ngày tạo 20/09/202220/09/2022Lượt xem 239    0

1. Giới thiệu

Hiện nay chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của nhựa được gọi là "plasticene" (Haram và cộng sự, 2020). Hơn 8,3 tỷ tấn nhựa đã được sản xuất kể từ những năm 1950, chỉ 9% trong số đó được tái chế trong khi phần còn lại được đưa vào lò đốt và tích tụ trong các bãi chôn lấp, bãi thải hoặc môi trường tự nhiên (Geyer và cộng sự, 2017). Hơn nữa, ước tính có 8 triệu tấn nhựa chảy vào đại dương mỗi năm (Jambeck và cộng sự, 2015). Do tỷ lệ thu gom, tái sử dụng và tái chế thấp, và các phương pháp xử lý không phù hợp, ô nhiễm nhựa trở thành một vấn đề nghiêm trọng trên toàn thế giới, gây ra nhiều tác động kinh tế xã hội, từ thiệt hại tài chính trực tiếp và gián tiếp trong nhiều lĩnh vực (Crippa và cộng sự, 2019).

Nhận thức toàn cầu về sự cần thiết phải giải quyết vấn đề rác thải nhựa và suy nghĩ lại về cách tiếp cận của chúng ta đối với nhựa đang ngày càng phổ biến. Các biện pháp cho phép chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn có thể giúp ngăn ngừa và loại bỏ lãng phí ngay từ đầu, đồng thời góp phần duy trì các giá trị của tài nguyên, nguyên liệu và sản phẩm trong nền kinh tế (ten Brink và cộng sự, 2020). Một hệ thống tuần hoàn sẽ hình dung nhựa được sản xuất và thiết kế theo những cách bền vững hơn (tức là sử dụng năng lượng tái tạo và nguyên liệu thô, và thiết kế nhằm mục đích sử dụng, tái sử dụng, sửa chữa và tái chế (cơ học, hóa học hoặc hữu cơ) trong giai đoạn cuối của vòng đời, v.v...). Bằng cách này, chúng ta có thể đảm bảo tính minh bạch và giá trị sử dụng cao của các vật liệu có thể lưu thông trong toàn xã hội mà không ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường (Crippa và cộng sự, 2019). Hệ thống này có triển vọng tận dụng các lợi ích của nhựa và mang lại các kết quả tốt hơn về môi trường, kinh tế và xã hội từ quan điểm vòng đời. Để tạo ra một nền kinh tế tuần hoàn (CE) cho nhựa, nghiên cứu và đổi mới là chìa khóa để tạo ra nhựa mới có thể tái sử dụng, tái chế hoặc có thể phân hủy; hơn nữa, việc xây dựng chính sách cho CE sẽ giúp loại bỏ các mặt hàng nhựa không cần thiết và phát triển một hệ thống lưu thông vật liệu bao gồm thu thập, phân loại và xây dựng lại một vật liệu được giới thiệu lại ( Ellen MacArthur Foundation, 2020; European Union, 2019).

Việt Nam hiện đứng trong top 05 quốc gia gây ô nhiễm đại dương lớn nhất trên toàn cầu (Jambeck và cộng sự, 2015). Chính phủ Việt Nam đang từng bước nhận trách nhiệm giải quyết vấn đề này bằng cách áp dụng nhiều biện pháp đồng thời biến những thách thức này thành cơ hội bằng cách hướng tới một CE cho nhựa. Cụ thể, các nguyên tắc “giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế” đã được nêu rõ trong Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020, đặc biệt là Điều 54 và 55 của Luật này quy định khung pháp lý về Trách nhiệm của Nhà sản xuất Mở rộng (EPR), trong đó trách nhiệm hoạt động tái chế của các nhà sản xuất, nhập khẩu và xuất khẩu bao bì nhựa được xây dựng. Ngoài ra, Quyết định ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý chất thải nhựa đại dương đã đề cập đến mục tiêu Việt Nam sẽ giảm 75% chất thải nhựa đại dương vào năm 2030 (1746/QĐ-TTg, 2019).

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết này sử dụng các thông tin được công bố từ một số báo cáo, bài báo khoa học, cũng như các quy định pháp lý của Việt Nam đã qua chọn lọc. 

3. Các vấn đề đang hiện hữu

Hình 1 trình bày dòng vật liệu nhựa tại Việt Nam, phần này sẽ trình bày về những đặc điểm chính của ngành nhựa và tái chế nhựa ở Việt Nam. Điều này cung cấp cơ sở để xác định các hạn chế và cơ hội trong việc phát triển một nền kinh tế tuần hoàn nhựa trong tương lai.

Kinh te tuan hoan rac thai nhua.jpg

Hình 1. Sơ đồ dòng vật liệu nhựa tại Việt Nam (vẽ lại từ Vietnam Business Council for Sustainable Development, United States Business Council for Sustainable Development, and Pathway 21)

3.1. Về nguồn cung

Theo một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2018, nguồn cung cấp nguyên liệu nhựa tại Việt Nam chủ yếu dựa vào hạt nhựa nguyên sinh nhập khẩu với khoảng 69% sản phẩm nhựa sản xuất tại Việt Nam hiện nay dựa vào hạt nhựa nguyên sinh, ứng với 5,9 triệu tấn (Vietnam Business Council for Sustainable Development, United States Business Council for Sustainable Development, and Pathway 21). Ngoài ra, Việt Nam cũng nhập khẩu 0,615 triệu tấn phế liệu, như vậy lượng hạt nhựa nguyên sinh và phế liệu nhập khẩu tính ra đã chiếm gần 80% nhu cầu nhựa tại Việt Nam, điều này cho thấy việc phụ thuộc nhiều vào nhựa nhập khẩu cùng với việc các nhà sản xuất trong nước tham gia sản xuất nguyên liệu thô còn thấp. 

20092022-KTTH RTN2.jpg

Hình 2. Mặc dù là một trong các nước xả rác thải nhựa ra đại dương hàng đầu thế giới, nhu cầu nhập khẩu nhựa phế liệu từ các nước khác của Việt Nam vẫn còn rất lớn. Nguồn: Duyên D. (2019)

Mức cung cấp nguyên liệu nhựa tái chế hiện nay thấp và do khu vực dân lập chiếm ưu thế. Hiện chưa có số liệu thống kê chính thức về đầu vào của nguyên liệu nhựa tái chế tại Việt Nam. Lĩnh vực tái chế nhựa ở Việt Nam bị chi phối bởi khu vực dân lập, nơi được cho là xử lý hơn 90% chất thải có thể tái chế trong cả nước. Các làng nghề/cơ sở tái chế nhựa dân lập ở Việt Nam không chịu sự kiểm soát bởi luật hoặc quy định cụ thể và sử dụng máy móc công nghệ thấp, không đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật và bảo vệ môi trường. Hiện tại có rất ít công ty tái chế hoạt động có đầy đủ giấy phép nhập khẩu hoặc chế biến nhựa phế liệu trong nước thành các sản phẩm trung gian hoặc cuối cùng, các công ty này có thể kể tên đó là Duy Tân, Đồng Tiến, v.v.

3.2. Về nguồn cầu

Ngành công nghiệp nhựa của Việt Nam là một trong những ngành phát triển nhanh nhất cả nước, với tiềm năng xuất khẩu cao, tỷ lệ gia tăng hàng năm vào khoảng 16-18% (Plastech Vietnam, 2022) với hơn 2000 công ty và tạo công ăn việc làm cho khoảng 2,5 triệu lao động.

Bao bì chiếm gần 40% các sản phẩm do ngành nhựa sản xuất. Hai lĩnh vực chính được coi là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng trong lĩnh vực nhựa, đó là ngành thực phẩm và đồ uống (bao bì) và ngành xây dựng.

Nhu cầu trong nước được dự báo sẽ tiếp tục tăng với mức thu nhập ngày càng tăng và tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng. Từ những năm 1990 đến 2015, tiêu thụ nhựa ở Việt Nam đã tăng hơn 10 lần (Vietnam Business Council for Sustainable Development, United States Business Council for Sustainable Development, and Pathway 21). Lượng nhựa tiêu thụ bình quân đầu người năm 2019 là 41 kg/người, cao gấp hơn 10 lần so với lượng tiêu thụ 3,8 kg/người vào năm 1990 (Tạp chí môi trường, 2020).

3.3. Về thu gom

Tiềm năng tăng tỷ lệ thu hồi nhựa từ chất thải rắn đô thị (hộ gia đình, nhà hàng, chợ, doanh nghiệp) và chất thải đô thị là cao. Rác thải đô thị chiếm gần 50% tổng lượng chất thải phát sinh (các nguồn khác: nông nghiệp, công nghiệp) (ICEE). Khối lượng phát sinh chất thải rắn đô thị ở Việt Nam ngày càng tăng do dân số tăng nhanh, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa và lượng chất thải rắn này cao hơn hẳn so với khu vực nông thôn. Tuy vậy, rác thải sinh hoạt phát sinh vẫn chưa được phân loại tại nguồn, điều này là tổn thất lớn do lãng phí lượng lớn phế liệu khi đi vào bãi chôn lấp. Một điều khác cần lưu ý là hệ thống thu gom dân lập vẫn chiếm tỉ lệ lớn ở nhiều địa phương (có khi > 50%), bên cạnh hệ thống thu gom công lập (Công ty Môi trường đô thị, Công ty Dịch vụ công ích).

Bên cạnh đó hệ thống thu hồi phế liệu công lập vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ trong khi hệ thống dân lập đóng vai trò chủ đạo trong việc thu gom, tái chế nhựa và đa phần hoạt động là do phụ nữ đảm nhiệm. Tuy nhiên, các đối tượng này không được xã hội công nhận đúng vai trò, cũng như điều kiện lao động và thu nhập không được đảm bảo.

20092022-KTTH RTN3.jpg

Hình 3: Mạng lưới đồng nát, ve chai là lực lượng tham gia tích cực vào việc thu gom phế liệu. Nguồn: Duy N. (2022)

3.4. Về chính sách

Nhìn chung, Chính phủ Việt Nam đã rất chủ động trong việc thiết lập các quy định về môi trường và giảm thiểu ô nhiễm chất thải nhựa. Dưới đây là một số quy định về môi trường và những tác động đối với ngành công nghiệp tái chế nhựa:

Luật bảo vệ môi trường năm 2020: Cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) trong thực hiện điều 54, điều này có thể đóng vai trò như một động lực mạnh mẽ cho các doanh nghiệp trong ngành để tăng khả năng tái chế của các loại bao bì nhựa cần thiết.

Luật thuế bảo vệ môi trường: Không có tác động quan trọng đến tỷ lệ tái chế nhựa hoặc thay đổi hành vi đối với việc sử dụng nhựa, nguyên nhân là do thuế đánh vào các nhà sản xuất sản xuất nhựa sử dụng một lần là quá thấp để có bất kỳ tác động nào.

Quyết định số 2149/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050: Các mục tiêu đầy tham vọng về thu gom và tái chế tạo động lực chính chống lại việc chôn lấp chất thải và sẽ khuyến khích đổi mới hiệu quả tài nguyên, bao gồm phát triển thị trường nhựa tái chế. 

Chỉ thị số 27/CT-TTg và công văn số 2227/VPCP-KTTH: Trước khi ban hành các quyết định này, Việt Nam chấp nhận phế liệu nhựa có mã HS 3915. Tuy nhiên, để phản ứng với lệnh cấm nhập khẩu nhựa của Trung Quốc (chuyển hướng một lượng đáng kể phế liệu nhựa toàn cầu vào Việt Nam), chính phủ đã xem xét lại chính sách nhập khẩu phế liệu nhựa, nhằm giảm thiểu rủi ro môi trường. Do đó, các chính sách này chỉ ra rằng ngành công nghiệp tái chế nhựa sẽ phụ thuộc vào nguồn phế liệu nhựa trong nước, đặc biệt là sau năm 2024 khi lệnh cấm hoàn toàn có hiệu lực.

Quyết định số 253/QĐ-BTNMT về dán nhãn sinh thái: Việc dán nhãn sinh thái ở Việt Nam không bao gồm các sản phẩm nhựa tái chế (Asia Pacific Roundtable on Sustainable Consumption & Production, 2014), đồng thời gặp phải nhiều khó khăn do nhận thức của khu vực nhà nước và tư nhân thấp, ngân sách hạn chế và không ổn định kìm hãm sự phát triển. Hơn nữa, hiện vẫn còn thiếu quy định cụ thể về khuyến khích và ưu đãi đối với các doanh nghiệp được lựa chọn (Huong, 2016). 

4. Quy tắc kinh tế tuần hoàn đối với rác thải

Mô hình tuyến tính của hệ thống quản lý chất thải rắn được minh họa trong Hình 2 giải thích rằng các sản phẩm phụ của các nguồn tài nguyên được sử dụng cuối cùng sẽ là chất thải ở cuối hệ thống quản lý chất thải rắn. Tuổi thọ của vật liệu trong nền kinh tế tuyến tính thường ngắn, với 80–90% sản phẩm được tạo ra bị lãng phí trong ít nhất một năm (Wang và cộng sự, 2021). Theo mô hình này thì vòng đời cuối cùng của chất thải sẽ đi vào bãi chôn lấp, nơi mà tài nguyên sẽ bị thất thoát và gây ô nhiễm cho môi trường. Cùng với sự gia tăng lớn chất thải rắn, biến đổi khí hậu và ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, các vấn đề vệ sinh và sức khỏe cộng đồng đã cho thấy nền kinh tế tuyến tính là không bền vững. 

Kinh te tuan hoan rac thai nhua 1.jpg

Hình 4. Nền kinh tế tuyến tính trong hệ thống quản lý chất thải (Williams-Gaul, 2015)

Do đó, khái niệm nền kinh tế tuần hoàn (KTTH) (Hình 3) đã được đưa ra. KTTH được cải tiến từ nhận thức rằng nền kinh tế tuyến tính góp phần gây ra sự không bền vững và cần có một cách tiếp cận mới nhằm định giá các nguyên liệu thô khác nhau. Mục tiêu chung của KTTH là tối đa hóa giá trị tài nguyên và sử dụng chúng càng lâu càng tốt. Toàn bộ khái niệm về KTTH nằm ở trọng tâm về quản lý tài nguyên, vốn là bản chất của cách tiếp cận này. Theo định nghĩa của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), “tài nguyên là tài sản tự nhiên cung cấp các lợi ích sử dụng thông qua việc cung cấp nguyên liệu thô và năng lượng được sử dụng trong hoạt động kinh tế (hoặc có thể cung cấp các lợi ích đó vào một ngày nào đó) và đó là đối tượng chủ yếu đến sự cạn kiệt về số lượng thông qua việc sử dụng của con người” (Abas và Seow, 2014). Các vật liệu và vật phẩm trong KTTH nhằm mục đích giảm thiểu chất thải và được tái sử dụng, tái chế hoặc thu hồi. Năng lượng bên trong nguyên liệu thô không sử dụng được chiết xuất để thay thế nhiên liệu nguyên chất và chất gây ô nhiễm có thể được loại bỏ một cách an toàn trong các bãi chôn lấp. 

Kinh te tuan hoan rac thai nhua 2.jpg

Hình 5. Lý thuyết kinh tế tuần hoàn trong quản lý chất thải rắn (Iacovidou và cộng sự, 2017; Geissdoerfer và cộng sự, 2020)

Khái niệm “nền kinh tế tuần hoàn” tìm kiếm giải pháp có hệ thống để thay thế nền kinh tế tuyến tính truyền thống, nhấn mạnh vào khái niệm “tính tuần hoàn” và thúc đẩy các nguyên tắc “3T”, cụ thể là tiết giảm, tái sử dụng và tái chế. Nó theo đuổi một hệ thống kinh tế lý tưởng, trong đó chất thải được giảm thiểu và nhiều tài nguyên hơn có thể được tái sử dụng và tái chế trong các hệ thống khép kín. Theo lý thuyết “phân cấp chất thải” (Hình 4), nền kinh tế tuần hoàn cải thiện hiệu quả sử dụng tài nguyên và hiệu quả kinh tế trong toàn bộ hệ thống bằng cách thúc đẩy các chiến lược 3T (được liệt kê là 3 lựa chọn ưu tiên hàng đầu trong hệ thống phân cấp chất thải). Do đó, việc chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn không chỉ làm giảm các tác động tiêu cực của nền kinh tế tuyến tính. Đúng hơn, kinh tế tuần hoàn thể hiện một sự thay đổi có tính hệ thống tạo ra các cơ hội kinh doanh và kinh tế, tạo ra các lợi ích về môi trường và xã hội, đồng thời xây dựng khả năng phục hồi lâu dài cho nền kinh tế của chúng ta. Nó cũng là một cầu nối tự nhiên để liên kết với các mục tiêu cơ bản của SDG. 

Kinh te tuan hoan rac thai nhua 3.jpg

Hình 6. Sơ đồ quản lý chất thải rắn và 3T trong kinh tế tuần hoàn

 Mặt khác theo tổ chức Ellen MacArthur, đối với kinh tế tuần hoàn nhựa thì nhựa không không bao giờ trở thành chất thải và họ đã đưa ra sáu điểm chính trong tầm nhìn của họ về kinh tế tuần hoàn nhựa:

  • Ưu tiên loại bỏ bao bì nhựa khó tái chế hoặc không cần thiết thông qua thiết kế lại, đổi mới và mô hình phân phối mới.
  • Các mô hình tái sử dụng được áp dụng khi thích hợp, giúp giảm nhu cầu bao bì đóng gói sử dụng một lần.
  • Tất cả bao bì nhựa đều có thể tái sử dụng 100%, có thể tái chế hoặc có thể phân hủy.
  • Tất cả bao bì nhựa đều được tái sử dụng, tái chế hoặc làm phân compost được.
  • Việc sử dụng nhựa được tách hoàn toàn khỏi việc tiêu thụ các nguồn tài nguyên hữu hạn.
  • Tất cả bao bì nhựa đều không chứa hóa chất độc hại, với việc tôn trọng sức khỏe, sự an toàn và quyền lợi của tất cả những người có liên quan.

20092022-KTTH RTN7.jpg

Hình 7: Các cửa hàng Refill (Làm đầy) tại Việt Nam là mô hình giảm thiểu, tái sử dụng bao bì tốt. Nguồn: Juliet B.N.D. (2020)

5. Kết luận 

Rác thải nhựa đang là vấn nạn báo động tại Việt Nam, để có thể giải quyết cần có sự phối hợp giữa các bên liên quan trong chuỗi giá trị nhựa, đồng thời cần có sự chuyển đổi sang xu hướng sang các quy tắc của nền kinh tế tuần hoàn nhằm giải quyết tốt hơn hiện trạng ô nhiễm nhựa hiện nay.

Bùi Lê Thanh Khiết

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Abas A.M.; Seow T.W. (2014) The Issues of Policy Implementation on Solid Waste Management in Malaysia. Int. J. Concept. Manag. Soc. Sci. , 2: 12–17.

Asia Pacific Roundtable on Sustainable Consumption & Production (2014) Report on Ecolabelling and Sustainable Public Procurement in the ASEAN+3 Region: Development of a Feasibility Study for Regional Ecolabelling Cooperation. https://www.aprscp.net/wp-content/uploads/2022/01/Final-Report-EL-SPP-ASEAN-3.pdf. Truy cập ngày 25/04/2022

Crippa M., De Wilde B., Koopmans R., Leyssens J., Muncke J., Ritschkoff A-C., Van Doorsselaer K., Velis C., Wagner M. (2019) A circular economy for plastics – Insights from research and innovation to inform policy and funding decisions, (M. De Smet & M. Linder, Eds.). European Commission, Brussels, Belgium.

Duyen D. (2019) Chiêu thức nhập khẩu phế liệu núp bóng hạt nhựa vận chuyển về Việt Nam. https://vneconomy.vn/chieu-thuc-nhap-khau-phe-lieu-nup-bong-hat-nhua-van-chuyen-ve-viet-nam.htm. Truy cập vào 16/09/2022.

Duy N. (2022) Nhọc nhằn đồng nát, ve chai. https://www.anninhthudo.vn/nhoc-nhan-dong-nat-ve-chai-post496061.antd. Truy cập vào 16/09/2022.

Ellen McArthur Foundation. Learning path, Plastics and the circular economy. Internet link: https://www.ellenmacarthurfoundation.org/explore/plastics-and-the-circular-economy#:~:text=Recycling%20of%20plastics%20is%20one,the%20consumption%20of%20finite%20resources. Truy cập ngày 25/04/2022

European Union (2019) A Circular Economy for Plastics – Research and Innovation for Systemic Change. Retrieved from https://op.europa.eu/en/publication-detail/-/publication/33251cf9-3b0b-11e9-8d04-01aa75ed71a1/language-en/format-PDF/source-87705298, Truy cập ngày 25/04/2022

Geissdoerfer M., Pieroni M., Pigosso D., Soufani, K. (2020) Circular business models: A review. J. Clean. Prod., 277: 123741.

Geyer R., Jambeck J.R., Law K.L. (2017) Production, use, and fate of all plastics ever made. Science Advance, 19: e1700782. 

Haram L.E., Carlton J.T., Ruiz G.M., Maximenko N.A. (2020) A Plasticene Lexicon. Marine Pollution Bulletin, 150: 110714.]

Huong N.T. (2016) SWOT Analysis of Vietnam Green Label Program Report. 60p.

Iacovidou E., Millward-Hopkins J., Busch J., Purnell P., Velis C.A., Hahladakis J.N., Zwirner O., Brown A. (2017) A pathway to circular economy: Developing a conceptual framework for complex value assessment of resources recovered from waste. J. Clean. Prod., 168: 1279–1288.

Jambeck J.R., Geyer R., Wilcox C., Siegler T.R., Perryman M., Andrady A., Narayan R., Law K.L. (2015) Plastic waste inputs from land into the ocean. Science 347, 768.

Juliet B.N.D. (2020) Bring Your Own Containers, We're Going Grocery Shopping. https://saigoneer.com/saigon-environment/18981-t%E1%BA%A1p-h%C3%B3a-l%C3%A1-xanh-saigon-food-zero-waste-refill-shop-bulk. Truy cập vào 16/09/2022.

Plastech Vietnam (2022) Vietnam’s Plastics Industry: Ready for the World. https://plastech-expo.com/en/news/vietnams-plastics-industry-ready-for-the-world-2-22.html, truy cập ngày 26/04/2022.

Plastics Europe (2019).  The Circular Economy for Plastics – A European Overview. Retrieved from:  https://www.plasticseurope.org/en/resources/publications/1899-circular-economy-plastics-european-overview, Truy cập ngày 25/04/2022.

Tạp chí môi trường (2020) Năm 2019: Trung bình mỗi người dân Việt Nam tiêu thụ 41 kg nhựa, http://tapchimoitruong.vn/dien-dan--trao-doi-21/N%C4%83m-2019--Trung-b%C3%ACnh-m%E1%BB%97i-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-d%C3%A2n-Vi%E1%BB%87t-Nam-ti%C3%AAu-th%E1%BB%A5-41-kg-nh%E1%BB%B1a-14583. Truy cập ngày 06/09/2022 

ten Brink P., Galgani F., Leslie H., De Smet M., Schweitzer J.-P. and Watkins E. (2017) Circular economy measures to keep plastics and their value in the economy, avoid waste and reduce marine litter. G20 Insight. 12p.

TTCP VN. (2019). Quyết định số 1746/QĐ-TTg Về việc ban hành kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030.

Vietnam Business Council for Sustainable Development, United States Business Council for Sustainable Development, and Pathway 21, “Vietnam Materials Marketplace. https://p4gpartnerships.org/sites/default/files/2019-07/materials%20marketplace%20final%20report.pdf, truy cập ngày 25/04/2022.

Wang K.C.M, Lee K.E., Mokhtar M. (2021) Solid Waste Management in Small Tourism Islands: An Evolutionary Governance Approach. Sustainability. 13:5896.

Williams-Gaul R. (2015) Circular Economy: Resources and Opportunities. In ISWA Task Force on Resource Management; International Solid Waste Association (ISWA): Vienna, Austria, 2015.

 

Bình luận bài viết Bình luận bài viết ({{commentCount ? commentCount : 0}})


Viết bình luận Ý kiến của bạn

{{formCommentErrors.user_name}}
{{formCommentErrors.user_email}}
{{formCommentErrors.content}}

Đọc nhiều

Các bài cùng tác giả


Kinh tế tuần hoàn rác thải nhựa

Nhựa tự hủy OXO – Đừng nhập nhèm mang danh “Nhựa phân hủy sinh học"

Ngày tạo 20/09/202220/09/2022Bình luận 00

GS.TS Đặng Thị Kim Chi - Chủ tịch Hội đồng khoa học và kỹ thuật, Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam, nhấn mạnh như vậy khi trao đổi với Phóng viên (PV) Báo Tài nguyên và...

Kinh tế tuần hoàn rác thải nhựa

Phát triển kinh tế biển xanh: Góc nhìn từ các chuyên gia quốc tế

Ngày tạo 18/09/202218/09/2022Bình luận 00

Khẳng định Việt Nam có nhiều tiềm năng, lợi thế về biển, song nhiều chuyên gia cũng khuyến nghị: Để nhanh chóng phục hồi kinh tế sau đại dịch COVID-19 và hoàn thành mục tiêu trở th...

Kinh tế tuần hoàn rác thải nhựa

Việt Nam cùng thế giới: Tham gia thỏa thuận khung giảm ô nhiễm nhựa

Ngày tạo 18/09/202218/09/2022Bình luận 00

Việt Nam đã khẳng định trách nhiệm của mình đối với vấn nạn rác thải nhựa đại dương khi là một trong những quốc gia tiên phong trong giảm rác thải nhựa đại dương và là một trong cá...