18/09/2022
2.611
1. GIỚI THIỆU
Trong thập kỷ qua, các mảnh vi nhựa trong môi trường biển và nước ngọt đã trở thành một vấn đề nổi cộm. Ngày càng có nhiều sự quan tâm để hiểu các tác động của vi nhựa đối với sinh vật tự nhiên sống trong nước, vì các tác động này vẫn chưa được hiểu rõ. Theo Arthur và cộng sự (2009), vi nhựa là những mảnh nhựa có kích thước nhỏ hơn 5 mm.
Dựa trên nguồn gốc của vi nhựa, chúng ta có thể phân chúng thành hai loại chính: sơ cấp và thứ cấp (Arthur và cộng sự, 2009). Vi nhựa sơ cấp bao gồm nguyên liệu nhựa thô được sản xuất, chẳng hạn như hạt nhựa nguyên sinh, vi hạt (Browne và cộng sự, 2007; Arthur và cộng sự, 2009) đi vào đại dương qua dòng chảy từ đất liền (Andrady, 2011). Vi nhựa thứ cấp được sinh ra khi các vật phẩm bằng nhựa lớn hơn (nhựa trung và nhựa kích cỡ lớn) đi vào bãi biển hoặc đại dương và trải qua quá trình phân hủy cơ học, quang (oxy hóa) và/hoặc sinh học (Thompson và cộng sự, 2004; Cooper và Corcoran, 2010). Sự phân hủy này phá vỡ các mảnh lớn hơn thành các mảnh nhựa nhỏ hơn dần dần mà cuối cùng không thể phát hiện được bằng mắt thường.
Hình 1: Hạt vi nhựa có trong một loại mỹ phẩm. Nguồn: pngwing
Vi nhựa có nhiều ứng dụng trong cuộc sống, ví dụ, các vi hạt được sử dụng trong các sản phẩm chăm sóc cá nhân như chất tẩy tế bào chết. Vi nhựa cũng được sử dụng để cung cấp thuốc trong một số ứng dụng y tế (Browne và cộng sự, 2007). Hơn nữa, các sợi rơi ra từ quần áo và dây thừng tổng hợp là vi nhựa (Thompson và cộng sự, 2004; Browne và cộng sự, 2007), cũng như các hạt được sử dụng trong quy trình làm sạch vỏ tàu và máy móc lớn (Browne và cộng sự, 2007). Điều đáng lo ngại là có nhiều vi nhựa đủ nhỏ để đi qua các nhà máy xử lý nước thải và đi vào các hệ sinh thái thủy sinh (Browne và cộng sự, 2007). Kết quả là vi nhựa đã được phát hiện thấy ở nhiều loại động vật ăn thịt ở tất cả các cấp độ dinh dưỡng từ động vật phù du (Sun và cộng sự, 2017) đến động vật không xương sống (Setälä và cộng sự, 2016), cá (Neves và cộng sự, 2015), chim (Provencher và cộng sự, 2018), và động vật có vú (Nelms và cộng sự, 2019). Hơn nữa, độc tính liên quan đến nhựa như chất phụ gia nhựa hoặc các chất ô nhiễm bám dính được hấp thụ trong các hạt nhựa (ví dụ như kim loại vi lượng, hóa chất gây rối loạn nội tiết, POP) có thể ảnh hưởng đến các loài sinh vật ở mức độ dinh dưỡng cao hơn và sức khỏe con người thông qua các quá trình tích lũy sinh học và phản ứng hóa sinh qua mạng thực phẩm (Wang và cộng sự, 2018). Tác động của vi nhựa đối với các sinh vật đã được chứng minh ở các mức độ khác nhau như gây ra stress oxy hóa và thay đổi mô học, thay đổi sở thích và hành vi cho ăn, ức chế thời gian ấp và nở của trứng, giảm tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống (Cole và cộng sự, 2015; Lo và Chan, 2018; Wang và cộng sự, 2019). Ngoài ra vi nhựa cũng được tìm thấy trong con người, cụ thể là trong phân (Schwabl và cộng sự, 2019) và trong máu (Leslie và cộng sự, 2022). Bài viết sẽ trình bày sự ô nhiễm vi nhựa trong các môi trường khác nhau tại Việt Nam.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài viết đánh giá chi tiết một loạt các nghiên cứu chính liên quan đến ô nhiễm vi nhựa trong các môi trường khác nhau tại Việt Nam. Kết quả trình bày ở đây được đúc kết ra từ nhiều nghiên cứu được công bố và không phải mọi bài báo về vi nhựa đều được đưa vào. Sử dụng công cụ tìm kiếm của Google Scholar, các bài báo có từ khóa “Microplastic” (hoặc “vi nhựa”) được lấy từ cơ sở dữ liệu, và các môi trường khác nhau; Biển, cửa sông, sông, hồ, đất được xem xét để nghiên cứu vi nhựa.
3. HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM VI NHỰA TẠI VIỆT NAM
3.1 Vi nhựa trong trầm tích/cát biển
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về ô nhiễm vi nhựa và tác động của nó. Tuy nhiên, những năm gần đây Việt Nam mới bắt đầu có những nghiên cứu về nó. Như nghiên cứu năm 2019 của Hà Thị Hiền và cộng sự, vi nhựa trong trầm tích rừng ngập mặn tại cửa Ba Lạt, miền Bắc Việt Nam là nơi sông Hồng đổ ra biển với mật độ vi nhựa trung bình là 81,4 vi nhựa/kg (Hiền và Cúc, 2021). Một nghiên cứu khác về ô nhiễm vi nhựa có trong trầm tích bãi triều khu vực ven biển xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa đã cho ra kết quả trung bình 4.123 vi nhựa/kg trầm tích (Dũng và cộng sự, 2020). Tiếp theo sau đó là nghiên cứu tại Vịnh Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh với kết quả nghiên cứu cho thấy trầm tích tầng mặt khu vực vịnh Tiên Yên bị nhiễm bẩn từ 236–1324 hạt vi nhựa/kg trầm tích (Dực và cộng sự, 2020).
Nghiên cứu của Nguyen và cộng sự (2020) tại tám bãi biển ở Đà Nẵng đã cho thấy rằng sợi tổng hợp là loại vi nhựa chủ yếu, chiếm hơn 99,2% tổng số vi nhựa, các sợi này phân bố tương đối đồng đều tại tất cả vị trí thu mẫu với nồng độ trung bình là 9238 ± 2097 vi nhựa/kg cát biển khô mặc dù chúng cho thấy có xu hướng phân bố nhiều hơn ở tầng mặt so với tầng sâu hơn và màu xanh lam (59,9%) và màu trắng (22,9%) là màu phổ biến nhất của vi nhựa dạng sợi; điều cần lưu ý là một số lượng lớn sợi tổng hợp (81,9%) có kích thước từ 300–2600 μm, có thể gây ra mối đe dọa đối với hệ sinh vật biển và sức khỏe con người. Một nghiên cứu khác được thực hiện tại ba bãi biển ở Đà Nẵng là Mỹ Khê, T20 và Sơn Thủy, kết quả cho thấy, mật độ vi nhựa tổng số ở 3 bãi biển Sơn Thủy, T20, Mỹ Khê lần lượt là 1.460 ± 758, 1.799 ± 370 và 29.232 ± 2.577 mảnh/kg trầm tích khô; trong đó vi nhựa có kích thước nhỏ hơn 150 μm chiếm tỷ lệ lớn nhất và 3 loại polymer PTFE [Polytetrafluoroethylene (Teflon)], EVOH (Ethylene vinyl alcohol) và PA [Polyamide (Nylon)] chiếm ưu thế trong các mẫu (Đỗ và cộng sự, 2021). Nghiên cứu này cũng đã củng cố thêm cho kết quả của Nguyen và cộng sự (2020).
Riêng đối với khu vực phía nam, Khuyen và cộng sự (2021) đã khảo sát sự ô nhiễm vi nhựa có trong cát biển tại Cần Giờ, kết quả cho thấy là nồng độ trung bình trong tất cả các cát được lấy mẫu là 60,22 ± 19,05 vi nhựa/kg cát, dạng vi nhựa phổ biến nhất (40–88%) là các mảnh, thường có kích thước nhỏ (25–100 µm).
3.2. Vi nhựa trong nước ngọt
Sông Sài Gòn là một trong những con sông được nghiên cứu nhiều kể cả về nhựa lớn lẫn vi nhựa, một trong những lý do đó là đây là con sông chảy qua khu vực đông dân cư nhất trên cả nước cũng như là sự hiện diện nhiều của các cơ sở công nghiệp dệt may và nhựa quanh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Lahens và cộng sự (2018) đã đánh giá sự ô nhiễm sợi và mảnh trên sông Sài Gòn bằng phương pháp thu mẫu trích (dùng cho vi sợi) và lưới phiêu sinh 300 μm (dùng cho mảnh), kết ghi nhận được ở đây đó là nồng độ sợi và mảnh lần lượt là 172.000 đến 519.000 sợi/m3 và 10 đến 223 mảnh/m3. Vi nhựa phát hiện thấy với nhiều màu sắc và hình dạng khác nhau, các mảnh chủ yếu được làm từ polyetylen và polypropylen trong khi sợi chủ yếu được làm bằng polyeste.
Hình 2: Nhóm nhà nghiên cứu đang thu thập mẫu vật để đo nồng độ vi nhựa trên một đoạn sông. Nguồn: IUCN (2021).
Ở một nghiên cứu khác, Strady và cộng sự (2021) đã đánh giá sự ô nhiễm vi nhựa ở nhiều con sông tại Việt Nam. Sự ô nhiễm vi nhựa thể hiện sự đa dạng về nồng độ từ 2,3 vi nhựa/m3 ở sông Hồng, 2,7 vi nhựa/m3 ở sông Hàn và 3,9 vi nhựa/m3 ở sông Đồng Nai, trong khi nồng độ cao hơn nhiều lần đo được ở sông đô thị và các sông nhỏ hơn: 93,7 vi nhựa/m3 ở sông Nhuệ đến 2522 vi nhựa/m3 tại sông Tô Lịch. Các con sông đô thị có nồng độ vi nhựa cao có thể là do việc xả thải nước thải trực tiếp ra các con sông này đi kèm với lượng thoát nước thấp của chúng. Kết quả ở nghiên cứu này thấp hơn so với ở sông Sài Gòn (Lahens và cộng sự, 2018), đoạn chảy qua thành phố Hồ Chí Minh, thủ phủ về kinh tế ở Việt Nam.
Đối với các hồ nước ngọt, nồng độ vi nhựa tại các hồ chứa nước nhằm cho mục đích tưới tiêu và sinh hoạt như hồ Trị An và hồ Dầu Tiếng dao động từ 1,5 - 2 vi nhựa/m3, đây là hai hồ chứa lớn thứ hai và thứ ba trong nước và ít chịu tác động từ các hoạt động công nghiệp cũng như đô thị. Trái ngược lại, các hồ nội ô như hồ Công Viên tại Đà Nẵng, Hồ Tây tại Hà Nội là những hồ bị tác động mạnh bởi các hoạt động trong đô thị do đó nồng độ vi nhựa đều ở mức cao từ 70 vi nhựa/m3 ở hồ Công Viên đến 611 vi nhựa/m3 ở Hồ Tây (Strady và cộng sự, 2021).
3.3 Vi nhựa trong nước mặn, cửa sông
Đối với môi trường nước mặn (biển, vịnh), vi nhựa cũng phát hiện thấy; tuy nhiên tùy theo vị trí khảo sát mà nồng độ của chúng sẽ có sự khác biệt, chẳng hạn nồng độ vi nhựa thấp chỉ 0,4 vi nhựa/m3 ở vịnh Cửa Lục ở tỉnh Quảng Ninh đến 28,4 vi nhựa/m3 ở cửa sông Dinh. Tại cửa sông Dinh, nồng độ vi nhựa cao có liên quan đến việc xả nước thải chưa qua xử lý và các hoạt động thủy sản. Tại các tỉnh Quảng Ninh và Hải Phòng, nồng độ vi nhựa đo được thấp, cụ thể tại Cửa Lục, Đồ Sơn và Vịnh Hạ Long nồng độ vi nhựa tương ứng là 0,4, 0,7 và 0,8 vi nhựa/m3. Nồng độ vi nhựa thấp ở Vịnh Hạ Long là điều bất ngờ do ở đây có hoạt động du lịch và nuôi trồng thủy sản quan trọng trong khu vực này, có khả năng là việc lựa chọn vị trí thu mẫu không phù hợp với bằng chứng cụ thể về tác động của các hoạt động nuôi trồng thủy sản, vì các mẫu được lấy tương đối xa các trang trại nuôi. Tại tỉnh Bình Định, nồng độ vi nhựa lần lượt là 3,2, 4,1 và 24,3 vi nhựa/m3 ở Đầm Thị Nại (2 vị trí) và Vịnh Quy Nhơn. Tỉnh này cũng có đặc điểm là hoạt động nuôi trồng thủy sản. Mặc dù hoạt động nuôi trồng thủy sản thấp hơn ở Quảng Ninh, nhưng nồng độ vi nhựa cao hơn, điều này có thể là do Đầm Thị Nại chịu ảnh hưởng trực tiếp của sông Kôn và sông Hà Thanh tiếp nhận nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp chưa qua xử lý từ các khu công nghiệp, có thể là nguyên nhân đầu vào chính của vi nhựa cho đầm và vịnh bên cạnh các hoạt động thủy sản (Strady và cộng sự, 2021).
Ở khu vực Cần Giờ, nồng độ vi nhựa trung bình trong nước biển ở bãi biển Cần Giờ là 6,44 ± 2,98 vi nhựa/L cao hơn ở Mũi Đồng Tranh vốn chỉ có 3,75 ± 2,04 vi nhựa/L. PE là polyme chiếm tỉ lệ nhiều nhất trong số các loại vi nhựa phát hiện thấy (Khuyen và cộng sự, 2021).
3.4 Vi nhựa trong sinh vật
Bên cạnh việc ô nhiễm vi nhựa đã phát hiện thấy trong môi trường nước và trầm tích/cát biển, việc phát hiện thấy vi nhựa trong sinh vật cũng là một vấn đề đáng quan tâm, nhất là ở những loài hải sản vốn là nguồn thức ăn được con người yêu thích. Một trong số bài báo đầu tiên công bố về sự hiện diện vi nhựa có trong sinh vật là của Phuong và cộng sự (2019), các tác giả này công bố phát hiện thấy vi nhựa có trong vẹm xanh (Perna viridis) thu tại Tĩnh Gia, Thanh Hóa, với nồng độ ghi nhận được là 2,6 vi nhựa/cá thể và 0,29 vi nhựa/gram mô tươi; đồng thời, vi nhựa được phát hiện thấy chiếm tỷ lệ cao là PP (31%) và polyester (33%).
Hình 3: Vẹm xanh là một trong những sinh vật đầu tiên được nghiên cứu về nồng độ vi nhựa tại Việt Nam (2019). Nguồn: Kháng T (2018)
Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Gia Hằng và cộng sự (2021) nhằm đánh giá sự tích tụ vi nhựa trong nghêu (Meretrix lyrata) tại bốn bãi nuôi nghêu tại Tân Thành, Ba Tri, Gành Hào và Ba Động trong ba tháng liên tiếp kể từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2020. Kết quả thu nhận được cho thấy mật độ vi nhựa trung bình cho toàn bộ mẫu thu được là 13,79 ± 1,06 vi nhựa/10 g thịt nghêu. Về mặt không gian thì vi nhựa tập trung nhiều nhất là ở bãi nuôi nghêu tại Tân Thành, tỉnh Tiền Giang (18,80 ± 2,40 vi nhựa/10 g thịt nghêu), kế đến là bãi Ba Động ở tỉnh Trà Vinh (13,11 ± 2,59 vi nhựa/10 g thịt nghêu) và bãi Ba Tri ở tỉnh Bến Tre (12,56 ± 1,35 vi nhựa/10 g thịt nghêu). Tại bãi Gành Hào, tỉnh Bạc Liêu có mật độ vi nhựa thấp nhất trong 4 bãi thu mẫu nghêu (10,70 ± 1,36 vi nhựa/10 g thịt nghêu). Khi so sánh về mật độ vi nhựa tích lũy trong cơ thể nghêu theo thời gian thì mật độ vi nhựa tập trung nhiều nhất trong tháng 2 (16,94 ± 1,37 vi nhựa/10 g thịt nghêu), kế đến là tháng 1 (15,80 ± 2,35 vi nhựa/10 g thịt nghêu) và thấp nhất là tháng 3 (8,63 ± 0,90 vi nhựa/10 g thịt nghêu).
Cũng ở nghêu, nhưng được nuôi ở hạ lưu sông Sài Gòn, khu vực bãi biển ở Cần Giờ, nghiên cứu này chỉ tập trung ô nhiễm dạng sợi tổng hợp có trong các mô khác nhau của nghêu. Kết quả cho thấy nồng độ vi nhựa trung bình là 3,6 ± 2,1 sợi/cá thể hoặc 2,7 ± 2,4 sợi/g mô tươi. Sự tích tụ vi sợi cao hơn trong các mô còn lại so với ở mang và hệ tiêu hóa (Kieu-Le và cộng sự, 2022).
4. KẾT LUẬN
Có thể thấy ô nhiễm vi nhựa tại Việt Nam đang là vấn đề nổi cộm, hiện tại vi nhựa đang hiện diện hầu như ở tất cả các pha môi trường khác nhau, kể cả trong sinh vật. Vấn nạn vi nhựa là không thể tách rời được với ô nhiễm rác thải nhựa; khác với rác thải nhựa có các quy định, tiêu chuẩn, hướng dẫn thì vi nhựa hiện tại vẫn chưa có khung pháp lý liên quan cũng như các tiêu chuẩn, kỹ thuật về môi trường. Do đó trong tương lai nên có các nghiên cứu với mục tiêu xây dựng thành quy định tiêu chuẩn đối với vi nhựa nhằm tạo cơ sở pháp lý để có thể góp phần thực thi và thực hiện tốt việc giảm thiểu ô nhiễm này.
Bùi Lê Thanh Khiết
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Andrady A.L. (2011). Microplastics in the marine environment. Marine Pollution Bulletin, 62:1596-1605.
Arthur C., Baker J., Bamford H. (Eds.) (2009) Proceedings of the International Research Workshop on the Occurrence, Effects, and Fate of Microplastic Marine Debris. Sept 9-11, 2008. NOAA Technical Memorandum NOS-OR&R-30.
Browne M.A., Galloway T., Thompson R. (2007). Microplastic – an emerging contaminant of potential concern? Integrated Environmental Assessment and Management, 3(4):559-561.
Cole M., Lindeque P., Fileman E., Halsband C., Galloway T. (2015) The impact of
polystyrene microplastics on feeding, function and fecundity in the marine copepod Calanus helgolandicus. Environmental Science & Technology, 49: 1130-1137.
Cooper D.A., Corcoran P.L. (2010). Effects of mechanical and chemical processes on the degradation of plastic beach debris on the island of Kauai, Hawaii. Marine Pollution Bulletin, 60:650-654.
Đỗ V.M., Đặng T.T., Lê X.T.T., Nguyễn D.T., Huỳnh D.L., Nguyễn T.L., Doãn T.T.L., Vũ D.N., Dương H.A., Phạm H.V. (2021) Phân tích đặc tính của rác thải vi nhựa trong trầm tích bãi biển vùng duyên hải Việt Nam: Nghiên cứu ban đầu tại Đà Nẵng. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 63: 7-13.
Dũng L.V., Dực T.H., Hà N.T.H., Tùng N.D., Tuệ N.T., Hiếu P.V., Định N.Q., Nhuận M.T. (2020) Nghiên cứu phương pháp xác định hạt vi nhựa trong môi trường trầm tích bãi triều ven biển, áp dụng thử nghiệm tại xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Tạp chí Khí tượng thủy văn, 715: 1-12.
Dực T.H., Dũng L.V., Thái N.Đ., Dũng L.V., Linh L.T.K., Quy T.Đ., Tuệ N.T. (2020) Đặc điểm thành phần và phân bố hạt vi nhựa trong môi trường trầm tích tầng mặt khu vực vịnh Tiên Yên. Tạp chí Khí tượng Thủy văn, 719: 14-25.
Gia Hằng N. T., Do N., Nguyen M., Thanh T., Tran D., Le T. (2021) Microplastic pollution in clam (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) at Mekong Delta river, Vietnam. Science and Technology Development Journal - Natural Sciences, 5: 1443-1454.
Hiền H.T., Cúc N.T.K. (2021) Bước đầu tìm hiểu về sự phân bố và đặc điểm của vi nhựa trong lớp trầm tích bề mặt vùng cửa sông Ba Lạt, miền Bắc Việt Nam. Ô nhiễm vi nhựa: Nghiên cứu điển hình tại Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế, NXB Giao thông vận tải, p12-19.
Khuyen V.T.K., Le D.V., Fischer A.R., Dornack C. (2021) Comparison of Microplastic Pollution in Beach Sediment and Seawater at UNESCO Can Gio Mangrove Biosphere Reserve. Global Challenges, 5: 2100044.
Kieu-Le T.-C., Tran Q.-V., Truong T.-N.-S., Strady E. (2022) Anthropogenic fibres in white clams, Meretrix lyrata, cultivated downstream a developing megacity, Ho Chi Minh City, Viet Nam. Marine Pollution Bulletin, 174: 113302.
Lahens L., Strady E., Kieu-Le T.-C., Dris R., Boukerma K., Rinnert E., Gasperi J., Tassin B. (2018) Macroplastic and microplastic contamination assessment of a tropical river (Saigon River, Vietnam) transversed by a developing megacity. Environmental Pollution, 236: 661-671.
Leslie H.A., van Velzen M.J.M., Brandsma S.H., Vethaaka A.D., Garcia-Vallejo J.J., Lamoree M.H. (2022) Discovery and quantification of plastic particle pollution in human blood. Environment International, 107199.
Lo H.K.A., Chan K.Y.K. (2018) Negative effects of microplastic exposure on growth and development of Crepidula onyx. Environmental Pollution, 233: 588-595.
Nguyen Q.A.T., Nguyen H.N.Y., Strady E., Nguyen Q.T., Dang M.T., Vo V.M. (2020) Characteristics of microplastics in shoreline sediments from a tropical and urbanized beach (Da Nang, Vietnam). Marine Pollution Bulletin, 161: 111768.
Nelms S.E., Barnett J., Brownlow A., Davison N.J., Deaville R., Galloway T.S., Lindeque P.K., Santillo D., Godley B.J. (2019) Microplastics in marine mammals stranded around the British coast: ubiquitous but transitory? Scientific Report, 9: 1075.
Neves D., Sobral P., Ferreira J.L., Pereira P. (2015) Ingestion of microplastics by commercial fish off the Portuguese coast. Marine Pollution Bulletin, 101: 119–126.
Phuong N.N., Pham Q.T., Duong T.T., Le T.P.Q, Amiard F. (2019) Contamination of microplastic in bivalve: first evaluation in Vietnam. Vietnam Journal of Earth Science, 41: 252-258.
Provencher J.F., Vermaire J.C., Avery-Gomm S., Braune B.M., Mallory M.L. (2018) Garbage in guano? Microplastic debris found in faecal precursors of seabirds known to ingest plastics. Science of the Total Environment, 644: 1477-1484.
Setälä O., Norkko J., Lehtiniemi M. (2016) Feeding type affects microplastic ingestion in a coastal invertebrate community. Marine Pollution Bulletin, 102: 95-101.
Schwabl P., Köppel S., Königshofer P., Bucsics T., Trauner M., Reiberger T., Liebmann B. (2019) Detection of Various Microplastics in Human Stool: A Prospective Case Series. Annual of Internal Medicine, 171: 453-457.
Strady E., Dang T.H., Dao T.D., Dinh H.N., Do T.T.D., Duong T.N., Duong T.T., Hoang D.A., Kieu-Le T.C., Le T.P.Q., Mai H., Trinh D.M., Nguyen Q.H., Tran-Nguyen Q.A., Tran Q.V., Truong T.N.S., Chu V.H., Vo V.C. (2021) Baseline assessment of microplastic concentrations in marine and freshwater environments of a developing Southeast Asian country, Viet Nam. Marine Pollution Bulletin, 162: 111870,
Sun X., Li Q., Zhu M., Lian J., Zheng S., Zhao Y. (2017) Ingestion of microplastics by natural zooplankton groups in the northern South China Sea. Marine Pollution Bulletin,115: 217-224.
Thompson R.C., Olsen Y., Mitchell R.P., Davis A., Rowland S.J., John A.W.G., McGonigle D., Russell A.E. (2004). Lost at sea: where is all the plastic? Science, 304: 838.
Kháng T. (2018) Nhặt đặc sản vẹm xanh trên biển, ngư dân thu tiền triệu mỗi giờ. https://danviet.vn/nhat-dac-san-vem-xanh-tren-bien-ngu-dan-thu-tien-trieu-moi-gio-7777873040.htm. Truy cập vào 16/09/2022.
IUCN (2021) Maintaining a scientific network to support policy on microplastic pollution in Viet Nam.https://www.iucn.org/news/viet-nam/202106/maintaining-a-scientific-network-support-policy-microplastic-pollution-viet-nam. Truy cập vào 16/09/2022.
Wang F., Wong C.S., Chen D., Lu X., Wang F., Zeng E.Y. (2018) Interaction of toxic chemicals with microplastics: a critical review. Water Research, 139: 208-219.
{{item.user_name}}
{{item.content}}
{{datetime(item.created_time * 1000, 'DD/MM/YYYY HH:mm:ss')}}
Vui lòng Đăng nhập để viết trả lời của bạn
{{child.admin_reply ? 'Admin' : child.user_name}}
{{child.content}}